EVFTA: Muốn hội nhập đỉnh cao, phải chăm lo con đường thể chế và vun đắp năng lực cạnh tranh

Thứ năm, 20-05-2020 | 7:51:12 +07:00
Ngay ngày đầu tiên của kỳ họp Quốc hội thứ 9, khóa XIV hôm nay (20/5), Quốc hội thảo luận việc phê chuẩn Hiệp định Thương mại tự do và Hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt Nam – EU (EVFTA).

Nội dung bài trao đổi của TS Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch VCCI, Đại biểu Quốc hội tỉnh Thái Bình.

TS Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch VCCI, Đại biểu Quốc hội tỉnh Thái Bình.

Trước hết tôi bày tỏ sự nhất trí với Tờ trình của Chủ tịch nước về việc phê chuẩn Hiệp định Thương mại tự do và Hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt Nam – EU. Hơn cả CPTPP, đây là Hiệp định Thương mại tự do có chuẩn mực cao nhất, hướng tới một không gian thị trường tiềm năng lớn nhất, có tính tương hỗ, bổ sung cao nhất với nền kinh tế Việt Nam.

Vì vậy, Hiệp định có ý nghĩa quan trọng với đất nước ta, xét trên nhiều góc độ: mở rộng thị trường, thúc đẩy đầu tư, cải cách thể chế và nâng cao năng lực cạnh tranh. Việc phê chuẩn và thực hiện các hiệp định này càng có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh chúng ta đã đẩy lùi Covid và đang cần có thêm nhiều động lực mới để thực hiện tái khởi động, phục hồi nền kinh tế.

Tăng cường quan hệ với EU, chúng ta sẽ có điều kiện tiếp cận một thị trường rộng lớn với gần 450 triệu dân của những nước giầu có hàng đầu thế giới, giúp chúng ta đẩy mạnh được xuất khẩu. Chúng ta có điều kiện khai thông một dòng chảy vốn đầu tư FDI với chất lượng cao hơn từ EU vào Việt Nam. Chúng ta có điều kiện cải thiện vị trí của Việt Nam trong các chuỗi cung ứng toàn cầu với công nghệ cao hơn, thân thiện với môi trường và phát triển bền vững hơn. Chúng ta có thêm động lực cải cách thể chế nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và cộng đồng doanh nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng, tạo ra nhiều việc làm đàng hoàng hơn cho người dân - Đó chính là đích đến cuối cùng của mọi chiến lược phát triển.

Có thể nói, giống như một con đường cao tốc hội nhập với Liên minh châu Âu, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam -  EU sẽ giúp chúng ta có cơ hội để hiện thực hóa những kỳ vọng bứt phá của thời kỳ phục hồi kinh tế sau đại dịch.

Tại kỳ họp này, Quốc hội bấm nút phê chuẩn hiệp định, cũng là bấm nút thông xe cho con đường cao tốc quan trọng này. Tuy nhiên, thông xe mới chỉ là mở lối đi, còn rất nhiều việc chúng ta phải làm để đoàn xe doanh nghiệp và cả nền kinh tế có thể vận hành trơn tru, hiệu quả trên tuyến đường này.

Thứ nhất, để doanh nghiệp và nền kinh tế có thể lên đường cao tốc hội nhập, ta phải làm ngay những “đường gom”, “lối mở” để vào cao tốc. Đó chính là những Luật, những Nghị định, Thông tư nội luật hóa các cam kết, hoặc hướng dẫn cách thức tổ chức thực hiện các cam kết đó. Soạn thảo và ban hành thật nhanh chóng, kịp thời các văn bản hướng dẫn này là việc cấp thiết để Hiệp định có hiệu lực, để con đường cao tốc có xe đi.

Kết quả rà xét của Chính phủ cho thấy một số lượng không nhỏ các văn bản quy phạm pháp luật cần phải xây dựng, cần phải sửa đổi cả ở tầm văn bản Luật, Nghị định, Thông tư. Chúng ta hoanh nghênh Chính phủ đã xây dựng kế hoạch triển khai. Nhưng với kinh nghiệm nhãn tiền của việc thực thi CPTPP, thì chúng ta không thể không lo ngại. Rất nhiều văn bản đã ban hành chậm trễ, sự phối hợp giữa các Bộ ngành cũng chưa thật hài hoà. CPTPP đã có hiệu lực từ một năm rưỡi qua, nhưng cho tới giờ phút này, có văn bản hướng dẫn thực thi vẫn còn lỡ hẹn. Làm sao để tình trạng này không tái diễn với hành trình thực thi cao tốc EVFTA.

Nếu chỉ xét từ góc độ chuyên môn, tôi thấy rất nhiều các quy định có thể ban hành ngay sau khi Hiệp định được Quốc hội phê chuẩn để bảo đảm thực thi ngay. Ví như các văn bản hướng dẫn ở cấp Chính phủ và các bộ ngành liên quan tới thuế quan, thủ tục cấp và tiếp nhận C/O ưu đãi, mở cửa thị trường dịch vụ, điều chỉnh các hàng rào phi thuế, các chế định tạo thuận lợi thương mại…

Chúng ta cũng cần đẩy nhanh quá trình sửa đổi, điều chỉnh các văn bản luật để bảo đảm thực thi theo quy trình một luật sửa nhiều luật, chứ không nhất thiết phải chờ sửa đổi từng bộ luật. Tôi thấy phần lớn các luật bảo đảm thực thi EVFTA chỉ được đưa ra Quốc hội thảo luận vào năm 2021, tôi đề nghị tính xem liệu có thể bắt đầu sớm hơn từ cuối năm nay để có thể đẩy nhanh quá trình thực thi hiệp định. 

Tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng để cao tốc có nhiều xe chúng ta không chỉ cần những “đường gom”, “lối mở” mà cần nâng cấp cả những con đường thể chế khác: con đường “liên tỉnh”, “liên thành”, “nội đô”, “nội thị”, “đường xã”, “đường làng”... để tăng tốc cho các doanh nghiệp và nền kinh tế của chúng ta. Con đường thể chế là con đường chính sách và thủ tục cho các hoạt động kinh tế, kinh doanh.

Văn bản pháp luật, chính sách nội địa để thực thi Hiệp định EVFTA không nên và không thể chỉ bó gọn trong các quy định để nội luật hóa những lời hứa trong cam kết, theo yêu cầu của Hiệp định. Mà còn phải là những quy định, chính sách mở rộng theo yêu cầu nội tại của chính chúng ta, để hạn chế các tác động không mong muốn từ cam kết, hay để tạo sức bật, hỗ trợ các doanh nghiệp và nền kinh tế tận dụng tốt hơn các lợi ích từ Hiệp định.

Hiện tại, trong dự thảo kế hoạch thực thi EVFTA của Chính phủ trình, tôi chỉ thấy các văn bản phải ban hành theo cam kết, chưa thấy văn bản nào ta chủ động dự kiến để tạo không gian và động lực cho chính chúng ta.

Ví dụ, chính sách nào để bù đắp nguồn thu thiếu hụt từ thuế nhập khẩu giảm theo cam kết, Văn bản nào thúc đẩy tận dụng các ngoại lệ được phép trong hiệp định theo hướng có lợi cho doanh nghiệp và nền kinh tế …

Thậm chí, với các cam kết áp dụng trực tiếp, ví dụ các cam kết mở cửa thị trường dịch vụ, thì mặc dù về lý là ta không cần văn bản nào để nội luật hóa, nhưng trên thực tế chắc chắn vẫn phải có các văn bản hướng dẫn chi tiết đến từng ngành. Bởi các cam kết này quá phức tạp, liên quan cùng lúc tới nhiều mối quan hệ ngang, dọc, chung, riêng khác nhau, không dễ để các cơ quan Nhà nước ở địa phương thực thi thống nhất, càng không dễ để doanh nghiệp có thể hiểu để làm theo. 

Thứ hai, chúng ta muốn vận hành đường cao tốc thì cần bảo đảm có được các biển báo, chỉ dẫn đầy đủ, rõ ràng. Cũng như vậy, chúng ta muốn doanh nghiệp tận dụng Hiệp định thì phải đẩy mạnh và làm thực chất hơn công tác phổ biến tuyên truyền, hướng dẫn, tư vấn cho doanh nghiệp.

Với Hiệp định nào trước đây, chúng ta cũng đã làm điều này. Với EVFTA chúng ta thậm chí đã triển khai phổ biến tuyên truyền từ vài năm trước cho doanh nghiệp. Nhưng nói thật là, chỉ với những kiến thức chung chung về lợi ích vĩ mô, về tổng số dòng thuế cắt giảm, về các nguyên tắc xuất xứ … được trình bày sơ sài chỉ trong một, hai buổi thì chẳng ăn thua. Doanh nghiệp không thể dựa vào đó để mà giao dịch và hưởng lợi. Doanh nghiệp cần các hướng dẫn tỉ mỉ, rành mạch, các tài liệu để có thể tra cứu rõ ràng khi cần thiết. Họ cần những địa chỉ có thẩm quyền, có thể giải đáp, hướng dẫn khi có những cách làm và cách hiểu khác nhau. Với các Hiệp định FTA đã có trước đây, chúng ta chưa thực sự làm tốt việc này.

Thứ ba, để bảo đảm việc vận hành đường cao tốc thông suốt thì phải tăng cường năng lực các đơn vị duy tu, bảo dưỡng, bảo trì.

Với EVFTA, chúng ta cũng phải làm quyết liệt công tác tổ chức bộ máy, đào tạo tập huấn cho các cán bộ, cơ quan liên quan ở cả trung ương và địa phương, hướng dẫn thực hiện và thường xuyên rà soát, kiểm tra trên thực tế. Mục tiêu là để bảo đảm cán bộ thừa hành phải biết và hiểu đúng việc cần làm; ngăn chặn được các biểu hiện xin-cho, nhũng nhiễu “hành” doanh nghiệp, tạo ra “ổ gà, ổ voi thủ tục” trong quá trình thực thi Hiệp định “cao tốc” quan trọng này.

Trên thực tế, chúng ta vẫn đang làm điều này, ở quy mô rộng, bền bỉ từ nhiều năm nay, với quyết tâm cao từ Chính phủ thông qua chuỗi Nghị quyết 19, 02, 35; từ các Bộ ngành thể hiện ở các đợt cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh; từ các địa phương qua các nỗ lực cải thiện năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI). Những kết quả đạt được là to lớn, rất đáng được ghi nhận. Nhưng thủ tục hành chính vẫn phiền hà, môi trường kinh doanh vẫn còn cần nhiều bước đi quyết liệt nữa mới có thể được coi là thực sự thuận lợi, đặc biệt là để vươn tới các chuẩn mực hàng đầu trong ASEAN và quốc tế. Để thực hiện EVFTA, những nỗ lực cải cách này phải được tăng tốc, nếu chúng ta muốn thành công.

Ngoài ra, cũng không thể không nói tới sức ép của nguy cơ bị khiếu kiện đầu tư quốc tế nếu các cơ quan quản lý Nhà nước không bảo đảm thực thi một cách chuẩn mực các nghĩa vụ về mở cửa, ứng xử hay bảo hộ cho các nhà đầu tư theo Hiệp định.

Thứ tư, đường cao tốc nào cũng phải có những trạm nghỉ, điểm dừng, nơi cung cấp các dịch vụ thiết yếu cho người và xe qua lại.

Với đường cao tốc hiện đại như EVFTA, chúng ta cần phải nhanh chóng thiết kế các Chính sách, Chương trình, các Biện pháp hỗ trợ cần thiết, và không trái cam kết, để doanh nghiệp nội có đủ sức cạnh tranh và hợp tác với đối thủ mạnh từ EU, để những nhóm yếu thế không bị bỏ lại phía sau, bị gạt ra lề đường cao tốc. Đây chính là những “trạm tiếp sức” rất cần thiết cho các doanh nghiệp, người lao động Việt Nam.

Ngoài ra, chúng ta cũng cần phải có dự kiến xa hơn về những chiến lược lớn về tái cơ cấu kinh tế, về chuyển dịch lao động và dân cư… để ứng phó với những thay đổi không mong muốn từ EVFTA nói riêng cũng như từ quá trình hội nhập FTA và kinh tế quốc tế nói chung. Đó là những việc làm rất cần thiết.

Cuối cùng, tôi muốn nhấn mạnh rằng, đối với doanh nghiệp và các cơ quan Nhà nước có liên quan, đường cao tốc EVFTA không phải là con đường miễn phí. Để doanh nghiệp và đất nước tận dụng được những cơ hội từ đường cao tốc EVFTA, chúng ta phải đầu tư.

Với các doanh nghiệp, trước hết phải bỏ thời gian và công sức để tìm hiểu về các cơ hội, thách thức từ Hiệp định. Sau đó có thể sẽ phải đầu tư để thay đổi nguồn cung, chuỗi sản xuất, qua đó đáp ứng các yêu cầu về quy tắc xuất xứ của Hiệp định. Doanh nghiệp có thể sẽ phải mất thêm nhiều chi phí tuân thủ, để đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao hơn về lao động, môi trường. Và tất nhiên, doanh nghiệp phải đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, để có được những sản phẩm tốt, chất lượng cao, giá cả phải chăng đáp ứng yêu cầu của thị trường. Nói cho cùng, EVFTA chỉ mở ra con đường giao thương thuận lợi, EVFTA không tự nhiên mang đến thành công cho bất cứ doanh nghiệp nào nếu doanh nghiệp đó không có đủ sức cạnh tranh.

Với Nhà nước, để EVFTA thực sự là một động lực cải thiện nền kinh tế, Nhà nước cần phải đầu tư cho 3 công trình trụ cột – nền tảng quốc gia cho năng lực cạnh tranh: Hoàn thiện thể chế, nâng cấp cơ sở hạ tầng, năng cao chất lượng nguồn nhân lực. Cái này, chúng ta đã nói nhiều, chúng ta cũng đang làm, nhưng để chơi với EVFTA, CPTPP và các Hiệp định tự do thế hệ mới, để đón nhận làn sóng FDI với chất lượng cao chứ không “vơ bèo vạt tép”, thì các việc làm này cần phải được tăng tốc nhanh hơn. 

Trân trọng cảm ơn Quốc hội!


Thành viên

Đối tác

0.05983 sec| 1475.023 kb